CHỮA BỆNH MỠ TRONG MÁU BẰNG NẤM LINH CHI

September 29, 2016

Mỡ trong máu cao là chứng bệnh do tăng lipid huyết, đặc điểm chủ yếu của bệnh là thành phần mỡ trong huyết tương cao hơn mức bình thường. Lipid trong máu gồm có Cholesterol, Triglycerid, Phospholipid và Acid béo tự do, có 60 đến 70 Lipid huyết là Cholesterol. Vì thế, chứng Mỡ máu cao chủ yếu là do tăng Cholesterol, Triglycerid, Phospholipid.

Mỡ trong máu thường bắt gặp ở người lớn tuổi hay các đối tượng bệnh liên quan đến các xơ vữa động mạnh, bệnh động mạch vành, bệnh cao huyết áp, bệnh tai biến mạch máu não, béo phì, tiểu đường…Do vậy chứng mỡ máu cao là chứng bệnh rất nguy hiểm, gây ảnh hưởng đến sức khỏe rất lớn.

Theo Frederickson (1967), có thể phân chứng Lipid huyết cao làm 5 loại:

– Chứng Chylomicron huyết cao (Hyperchylomic ronemie (Type I) có đặc điểm: Cholesterol bình thường, Triglycerid cao, Chylomicron rất cao, là bệnh di truyền do thiếu enzim Lipoprotein Lipaz, rất nhạy cảm với chất béo, ăn vào là huyết tương trở nên đục ngầu, ít gây xơ vữa động mạch.

– Loại II: chứng ‘Tăng Cholesterol gia đình vô căn’, là bệnh nặng dễ gây biến chứng xơ cứng mạch ở bệnh nhân còn trẻ (Hypercholesterolémie familiale essentielle): Cholesterol cao, (-Lipoprotein rất cao, Triglycerid bình thường. Còn loại II gọi là chứng (-lipoprotein huyết cao hoặc chứng tăng Lipid huyết do ăn nhiều, có đặc ‘điểm là: Cholesterol và Triglycerid tăng vừa nhưng (và tiền (-Lipoprotein tăng rất cao.

– Loại III: tăng Lipid huyết hỗn hợp: cả Cholesterol, Triglycerid đều cao, là bệnh nặng có biến chứng xơ cứng mạch. Có thể do Hydrat carbon tạo thuận lợi để phát khởi hoặc duy trì.

– Loại IV: tăng Triglycerid, Cholesterol bình thường, phần nhiều có di truyền, dễ gây biến chứng xơ mỡ động mạch, nhạy cảm với chất Hydrat carbon và rượu.

– Loại V: là loại hỗn hợp 2 loại I và IV (Hyperlipidemie và Triglycéride et Chilomicron), tăng Lipid huyết, Triglycerid và Cholimicron, nhạy cảm với mỡ và Hydrat carbon. Trong thể này, Cholesterol cũng tăng cao rõ.

Đặc điểm lâm sàng:

– Tiền sử gia đình: yếu tố di truyền có ảnh hưởng đến bệnh như loại I, III thường có yếu tố gia đình, loại II chứng nặng có liên quan, chứng nhẹ ít, loại IV, V, một số ít có liên quan di truyền.

– Tuổi mắc bệnh: loại I phát hiện sớm ở trẻ nhỏ, loại V phát bệnh chậm, thường vào tuổi trên 30, loại II thuộc di truyền nên thường ở trẻ nhỏ đã mắc bệnh, loại III, IV thường gặp ở người lớn.

– Tỷ lệ mắc bệnh: Loại II và IV có tỷ lệ phát bệnh cao 80 – 90, loại III và IV ít gặp, loại I càng ít hơn.

– Liên quan với thể tạng và bệnh tật: Chứng mỡ máu cao loại III, IV, V thường gặp ở người béo phì, mập, loại I và III không gặp ở người mập.

Công dụng của nấm linh chi trong phòng chữa bệnh

Theo nghiên cứu trong Nấm Linh chi có chứa các hoạt chất có tác dụng tích cực đến hệ tuần hoàn như sau:

– Nấm Linh chi giúp chống nhiễm mỡ, xơ mạch và các biến chứng (bệnh xơ vữa động mạch vành). Có tác dụng đặc biệt trong việc loại trừ chất cholesterol trong máu và các thành mạch, trợ tim, thanh lọc máu, làm giảm cholesterol, giảm xơ cứng thành động mạch, thúc đẩy quá trình lưu thông máu, tăng cường sự tuần hoàn trong máu.

– Giúp làm giảm huyết áp, điều hòa và ổn định huyết áp, có tác dụng rất tốt cho những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường kèm theo huyết áp cao.

– Giảm mệt mỏi, hỗ trợ thần kinh, chống đau đầu và tứ chi, điều hoà kinh nguyệt.

Để đạt được hiệu quả cao nhất thì nhất thiết phải sử dụng một cách kiên trì. Mỗi ngày nên dùng từ 5-7g bằng cách hãm hoặc sắc uống thay trà. Nếu dùng dưới dạng các chế phẩm khác như viên nang, cao lỏng. thì phải tuân thủ đúng theo hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa.

Leave your comment